Công ty luật TNHH Sao Sáng

luatsaosang@gmail.com 0936653636

LY HÔN VÌ CHỒNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH, VỢ ĐƯỢC NUÔI CON VÀ CHIA TÀI SẢN THẾ NÀO?

13:20 CH
Thứ Hai 29/01/2024
 440

Bạo lực gia đình là một vấn đề luôn bị xã hội phê phán, thế nhưng tình trạng này xảy ra ngày càng phổ biến. Hành vi bạo lực gia đình thường xuất phát từ người chồng – trụ cột của gia đình.

Cho dù là bạo lực về mặt thể xác hay tinh thần thì ảnh hưởng mà nó gây ra ảnh hưởng tiêu cực cho mọi thành viên trong gia đình, nhất là những người vợ.

I. Hành vi nào được coi là bạo lực gia đình?

Theo khoản 2 Điều 1 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007, bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình. 

Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

  • Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả ng
  • Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
  • hiêm trọng;
  • Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
  • Cưỡng ép quan hệ tình dục;
  • Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
  • Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
  • Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
  • Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
  • Các hành vi bạo lực quy định nêu trên cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.

II. Chứng minh hành vi bạo lực gia đình khi ly hôn

Nếu người chồng có hành vi bạo lực gia đình thì người vợ sẽ được quyền ly hôn theo thủ tục ly hôn đơn phương. Đồng thời, người vợ cần phải có căn cứ, chứng cứ về hành vi bạo lực của người chồng, như:

  • Quay video, chụp ảnh thông qua camera lắp đặt trong nhà về hành vi bạo lực, đánh đập của người chồng đối với người vợ.
  • Xin xác nhận của bệnh viện về điều trị chấn thương do hành vi bạo lực của người chồng.
  • Biên bản hòa giải tại cơ sở hòa giải (nếu có).

Có nhiều cách để thu thập chứng cứ về hành vi bạo lực gia đình. Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà người vợ có thể sử dụng biện pháp hợp lý và phù hợp nhất với yêu cầu ly hôn của mình

Trong trường hợp có hành vi bạo lực gia đình như: hành hạ, ngược đãi, đánh đập…thì bên bị bạo lực có thể trình báo lên cơ quan địa phương gần nhất là công an xã phường/ủy ban xã phường để lập biên bản về hành vi vi phạm. Sau đó bên bị bạo lực gia đình có thể khởi kiện ra tòa án yêu cầu ly hôn đơn phương. Ngoài ra nếu chứng minh được thiệt hại có thể yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại.

Hiện nay, ngoài hành vi bạo hành về thể xác thì hành vi bạo lực về tinh thần cũng ngày càng diễn ra phức tạp hơn. Có nhiều người rơi vào trạng thái tổn thương nghiêm trọng về mặt tinh thần. Vì vậy, khi gặp phải những trường hợp trên bạn nên đến gặp luật sư để được tư vấn, trấn an tinh thần và tìm ra giải pháp hợp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

III. Ly hôn vì chồng bạo lực gia đình, vợ được nuôi con và chia tài sản thế nào?

Tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về ly hôn theo yêu cầu một bên như sau: Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Như vậy, nếu giữa người vợ và người chồng phát sinh mâu thuẫn, tình cảm giữa hai bên không còn, người vợ muốn được ly hôn với chồng thì người vợ có quyền làm đơn gửi đến cơ quan Tòa án cấp huyện nơi vợ chồng cư trú để được giải quyết. Nếu có căn cứ chứng minh việc chồng chị có hành vi bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án sẽ giải quyết cho chị được ly hôn mà không cần phải được sự đồng ý ly hôn của chồng chị.

Về việc giải quyết việc nuôi con chung: Tại Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Căn cứ quy định đã viện dẫn nêu trên, thì khi ly hôn giữa vợ và chồng có quyền tự thỏa thuận về việc ai sẽ là người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Trong trường hợp không tự thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào ai có điều kiện nuôi con tốt hơn để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và căn cứ vào nguyện vọng của con (nếu con đã trên 8 tuổi); nếu người trực tiếp nuôi dưỡng con có yêu cầu thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.

Về việc phân chia tài sản, vợ và chồng có quyền tự thỏa thuận với nhau. Trường hợp không tự thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia theo pháp luật.

Tại Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 6/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp đã hướng dẫn, khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng.

Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.

Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập

Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

Tòa án sẽ căn cứ vào các yếu tố nêu trên để phân chia tài sản chung cho chị và chồng chị. Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc. Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án sẽ xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Việc người chồng có hành vi bạo lực gia đình, Tòa án xem xét là yếu tố lỗi của chồng chị khi chia tài sản chung.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua Tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 - 0972.17.27.57 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng. Trân trọng cảm ơn !

 

Bài viết cùng chuyên mục

Bản đồ

Luật sư sẽ liên hệ lại với bạn ngay lập tức khi nhận được lịch

Danh mục

Tin mới

. .