Khoản nợ đang tranh chấp có thể làm căn cứ mở thủ tục phá sản không?
Chủ nợ gửi công văn đòi nợ. Doanh nghiệp trả lời số tiền không chính xác, hợp đồng hoặc thỏa thuận thanh toán còn vướng mắc, biên bản đối chiếu công nợ chỉ do kế toán ký nên không có giá trị,... Vậy một khoản nợ đang tranh chấp có thể được chủ nợ dùng làm căn cứ để yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán không?
Câu trả lời là có. Việc doanh nghiệp phản đối khoản nợ không nằm trong các căn cứ để Tòa án trả lại đơn, cũng không phải căn cứ để ra quyết định không mở thủ tục phá sản. Điều quyết định là chủ nợ chứng minh được nghĩa vụ thanh toán tồn tại, đã đến hạn và quá 06 tháng hay không. Dưới đây là các quy định cụ thể được quy định tại Luật Phục hồi, phá sản 2025 số 142/2025/QH15.
1 . Luật không loại khoản nợ đang tranh chấp khỏi diện yêu cầu phá sản
Khoản 2 Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản 2025 số 142/2025/QH15 (sau đây viết tắt là Luật Phục hồi, phá sản) xác định doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Điểm a khoản 1 Điều 38 cho phép chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
Khoản 3 Điều 39 liệt kê các trường hợp Tòa án trả lại đơn: người nộp đơn không có quyền, nghĩa vụ nộp đơn; không sửa đổi, bổ sung đơn trong thời hạn; Tòa án khác đã thụ lý đơn; người nộp đơn rút đơn; không nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản. Danh sách này không có trường hợp khoản nợ đang tranh chấp.
Việc doanh nghiệp phản đối số tiền không chính xác hoặc phản đối hiệu lực hợp đồng vì thế không đương nhiên khiến Tòa án trả lại đơn yêu cầu áp dụng thẻ tục phá sản hay ra quyết định không mở thủ tục phá sản. Yếu tố quyết định là chủ nợ có chứng minh được nghĩa vụ thanh toán tồn tại, đã đến hạn và quá thời hạn 06 tháng hay không.
2. Tòa án xem xét gì khi khoản nợ bị phản đối
Khoản 1 Điều 39 Luật Phục hồi, phá sản buộc người nộp đơn nộp kèm tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp. Có ba nhóm câu hỏi phải trả lời bằng hồ sơ:
-
Nghĩa vụ thanh toán có tồn tại không? Phát sinh từ căn cứ nào?
-
Khoản nợ đến hạn vào ngày nào? Xác định bằng tài liệu gì?
-
Tính từ thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã quá thời gian 06 tháng chưa?
3. Chứng cứ làm khoản nợ khó bị phản đối
Mỗi tài liệu dưới đây phục vụ một mục đích chứng minh riêng:
-
Hợp đồng, phụ lục, đơn đặt hàng: căn cứ phát sinh nghĩa vụ.
-
Biên bản giao nhận, hóa đơn, chứng từ vận chuyển: chủ nợ đã thực hiện phần việc của mình.
-
Biên bản đối chiếu công nợ có chữ ký người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền hợp lệ, kèm con dấu: số nợ được thừa nhận.
-
Văn bản cam kết trả nợ, công văn xin gia hạn: xác định lại ngày đến hạn.
-
Chứng từ thanh toán một phần: phần dư nợ còn lại.
-
Bản án, quyết định hoặc phán quyết trọng tài đã có hiệu lực: chứng cứ mạnh nhất về nghĩa vụ nợ.
Một biên bản xác nhận công nợ do nhân viên ký, không kèm giấy ủy quyền, thường trở thành điểm phản đối đầu tiên của phía bên kia.
4. Doanh nghiệp bị yêu cầu phá sản nên phản đối thế nào
Khoản 2 Điều 39 Luật Phục hồi, phá sản đặt ra trình tự rất ngắn: Chánh án phân công Thẩm phán trong 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, Thẩm phán thông báo cho doanh nghiệp bị yêu cầu trong 02 ngày làm việc tiếp theo, và doanh nghiệp phải có ý kiến bằng văn bản kèm tài liệu, chứng cứ trong 05 ngày làm việc kể từ ngày gửi thông báo.
Khi Tòa án đã ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, khoản 4 Điều 41 cho người tham gia thủ tục 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định để đề nghị xem xét lại; Chánh án xem xét trong 10 ngày và đây là quyết định cuối cùng theo khoản 5 và khoản 6 Điều 41. Theo khoản 2 Điều 41, quyết định mở hoặc không mở có hiệu lực thi hành ngay từ ngày ra quyết định.
Với thời hạn 05 ngày làm việc, doanh nghiệp gần như không còn thời gian thu thập chứng từ từ đầu; hồ sơ công nợ và các văn bản phản đối đã gửi trước đó phải sẵn sàng. Song song, Điều 22 Luật Phục hồi, phá sản khuyến khích các bên thương lượng, hòa giải trong quá trình giải quyết vụ việc.
Ba hướng xử lý doanh nghiệp bị có thể cân nhắc:
Thương lượng và thỏa thuận trả nợ. Điều 22 Luật Phục hồi, phá sản khuyến khích doanh nghiệp, chủ nợ và những người tham gia thủ tục thương lượng, hòa giải trong quá trình giải quyết vụ việc. Nếu đạt được thỏa thuận trước khi Tòa án thụ lý và người yêu cầu rút đơn, Tòa án trả lại đơn theo điểm d khoản 3 Điều 39 Luật Phục hồi, phá sản.
Chứng minh khoản nợ chưa quá 06 tháng. Doanh nghiệp cần xuất trình văn bản gia hạn, biên bản chốt lại lịch trả nợ hoặc chứng từ thanh toán một phần làm thay đổi ngày đến hạn. Đây là hướng phản bác trực tiếp vào điều kiện tại khoản 2 Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản.
Rà lại tư cách người nộp đơn và thẩm quyền Tòa án. Chủ nợ có bảo đảm toàn phần không thuộc nhóm được nộp đơn theo điểm a khoản 1 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản. Về nơi nộp, điểm a khoản 2 Điều 6 Luật Phục hồi, phá sản xác định Tòa án nhân dân khu vực nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính là Tòa án có thẩm quyền.
Ba hướng trên không loại trừ nhau. Trên thực tế, doanh nghiệp thường vừa gửi văn bản phản đối kèm chứng cứ, vừa mở kênh thương lượng với chủ nợ.
5. Rủi ro khi dùng đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản như công cụ ép trả nợ
Khoản 2 Điều 40 Luật Phục hồi, phá sản quy định sau khi Tòa án thụ lý đơn, Tòa án và Trọng tài phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp là một bên đương sự. Con đường khởi kiện đòi nợ riêng lẻ vì vậy bị chặn lại.
Thứ tự phân chia tài sản tại khoản 1 Điều 46 cũng cần tính trước: khoản nợ của chủ nợ không có bảo đảm có thứ tự nằm ở nhóm cuối, sau chi phí phá sản, nợ lương, nợ bảo hiểm, trợ cấp thôi việc, khoản nợ phát sinh nhằm phục hồi kinh doanh và nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Khoản 19 Điều 13 cấm lợi dụng thủ tục phục hồi, phá sản để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; khoản 1 Điều 20 buộc người nộp đơn không trung thực hoặc lợi dụng thủ tục phải chịu chi phí phục hồi, phá sản.
6. Kết luận
Khoản nợ đang tranh chấp không bị Luật Phục hồi, phá sản loại khỏi diện yêu cầu mở thủ tục phá sản. Chủ nợ chỉ cần chứng minh nghĩa vụ nợ tồn tại, đã đến hạn và quá 06 tháng. Ngược lại, doanh nghiệp bị yêu cầu vẫn còn nhiều hướng xử lý như: thương lượng và thỏa thuận trả nợ, chứng minh khoản nợ chưa quá hạn, chủ nợ không thuộc nhóm có quyền nộp đơn.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua Tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng.
Trân trọng cảm ơn!




