Đăng thông tin sai sự thật bị xử lý thế nào?
Sự phát triển vượt bậc của các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, và TikTok đã biến không gian mạng thành môi trường chia sẻ thông tin chủ yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối và phổ biến tri thức. Tuy nhiên, sự bùng nổ này đồng thời kéo theo những nguy cơ tiềm ẩn về việc lan truyền tin giả, thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, và kích động, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự và quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Do đó, việc xác lập một khung pháp lý rõ ràng, đặc biệt là xác định ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS), là vô cùng cần thiết để đảm bảo môi trường mạng lành mạnh và có trách nhiệm.
Hành vi đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội có thể bị xử lý ở ba cấp độ pháp lý khác nhau: dân sự (bồi thường thiệt hại), hành chính (phạt tiền), và hình sự (truy cứu TNHS). Một hành vi chỉ bị truy cứu TNHS khi nó vượt qua ngưỡng xử phạt hành chính thông thường, đạt đến mức độ cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS.
1. Khung pháp lý và ngưỡng chuyển đổi từ hành chính sang hình sự
Hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng luôn được xem xét theo nguyên tắc phân tầng: xử lý hành chính là bước lọc ban đầu, và chỉ khi đạt đến ngưỡng hậu quả nghiêm trọng hoặc thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm mới bị xem xét truy cứu TNHS.
-
- Xử lý hành chính
Trước khi cân nhắc các biện pháp hình sự, các hành vi đăng tải thông tin sai sự thật thường bị xử phạt vi phạm hành chính. Cơ sở pháp lý chính là Nghị định 15/2020/NĐ-CP (hoặc các văn bản thay thế) quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.
Cụ thể, Điều 101 của Nghị định số 15/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 14/2022/NĐ-CP quy định rằng hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân trên mạng xã hội sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Việc thiết lập khung xử phạt hành chính rõ ràng (10-20 triệu VNĐ) cho hành vi chia sẻ tin sai sự thật và khuyến nghị người dân cần "nâng cao ý thức khi sử dụng mạng xã hội, kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ" cho thấy định hướng của pháp luật Việt Nam. Khung xử phạt hành chính đóng vai trò như một van an toàn pháp lý. Nó giúp các cơ quan chức năng xử lý nhanh chóng và hiệu quả hàng loạt vụ việc vi phạm danh dự cá nhân hoặc tổ chức ở cấp độ nhẹ và trung bình. Điều này có tác dụng răn đe tức thì, đồng thời dự trữ nguồn lực của hệ thống tư pháp hình sự cho các vụ án có tính chất nghiêm trọng hơn, có tổ chức, hoặc gây ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc gia, qua đó bảo vệ quyền tự do ngôn luận khỏi nguy cơ hình sự hóa một cách tùy tiện.
-
- Yếu tố quyết định truy cứu TNHS
Để hành vi đăng tin sai sự thật trên mạng xã hội bị truy cứu TNHS, nó bắt buộc phải thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành của một tội danh cụ thể trong Bọ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 (BLHS). Các dấu hiệu này bao gồm:
- Tính chất của thông tin: Phải là thông tin bịa đặt, loan truyền sai sự thật (đối với Điều 156 BLHS) hoặc thông tin được lợi dụng để gây ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước/xã hội (đối với Điều 331 BLHS).
- Hậu quả: Phải gây ra thiệt hại nghiêm trọng (về danh dự, nhân phẩm, tài sản, sức khỏe tâm thần) hoặc ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự.
- Yếu tố lỗi: Đối với hầu hết các tội danh liên quan, bắt buộc phải là lỗi cố ý, đặc biệt là lỗi cố ý trực tiếp đối với Tội vu khống.
- Đăng thông tin sai sự thật lên mạng xã hội có bị xử lý hình sự?
Trong trường hợp hành vi đăng thông tin sai sự thật không chỉ giới hạn ở việc xâm phạm danh dự cá nhân mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức hoặc trật tự xã hội, nó có thể bị truy cứu theo một số loại tội phạm sau:
-
- Truy cứu TNHS về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ (Điều 331 BLHS)
Điều 331 BLHS quy định về hành vi lợi dụng các quyền cơ bản của công dân (như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp) để xâm phạm lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Tội phạm này xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thông qua việc lợi dụng các quyền tự do dân chủ của bản thân do Hiến pháp quy định. Khách thể chính ở đây là trật tự quản lý hành chính của Nhà nước và các lợi ích công.
- Mặt khách quan: Hành vi khách quan là việc lợi dụng các quyền tự do (thường là tự do ngôn luận, được thực hiện qua việc đăng tải, bình luận trên mạng xã hội) để: Tung tin không có thật gây hoang mang trong nhân dân. Viết bài đả kích, gây mất uy tín cho cơ quan Nhà nước hoặc cán bộ công chức.
- Mặt chủ quan (Lỗi): Người phạm tội phải thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Điều này nghĩa là người vi phạm cố tình thực hiện hành vi dù đã biết rõ những nội dung phát tán, chia sẻ, hoặc loan truyền về người khác là sai sự thật, và mục đích xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
-
- Truy cứu TNHS theo tội vu khống (Điều 156 BLHS)
Tội vu khống là tội danh thường được áp dụng nhất khi hành vi đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội nhắm vào danh dự, nhân phẩm của cá nhân hoặc uy tín của tổ chức cụ thể.
- Mặt khách quan (Hành vi): Người phạm tội phải thực hiện một trong hai hành vi sau đây trên mạng xã hội: Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Hành vi bịa đặt được hiểu là tự người phạm tội thêu dệt nên những sự việc hoàn toàn không có thật. Hành vi loan truyền là việc đưa thông tin từ người này đến người khác dưới mọi hình thức, bao gồm viết, vẽ, tranh ảnh, loa truyền thanh, và đặc biệt là thông qua mạng internet. Tội vu khống được coi là hoàn thành từ thời điểm thông tin bịa đặt đó được loan truyền cho người khác biết.
- Mặt chủ quan (lỗi): Yếu tố lỗi là dấu hiệu cấu thành cơ bản và quan trọng nhất của Tội Vu Khống. Người phạm tội phải thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Điều này có nghĩa là người vi phạm cố tình thực hiện hành vi dù đã biết rõ những nội dung phát tán, chia sẻ, hoặc loan truyền về người khác là sai sự thật, và mục đích của họ là nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín hay gây ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
- Phân biệt Điều 331 và Điều 156 BLHS
Sự phân biệt giữa hai tội danh này nằm ở yếu tố lỗi và khách thể bị xâm phạm:
Tội vu khống (Điều 156): Khách thể chính là danh dự/nhân phẩm cá nhân. Yếu tố lỗi là cố ý trực tiếp, đòi hỏi người phạm tội phải biết rõ thông tin đó là bịa đặt (hoàn toàn không có thật) và cố tình loan truyền nhằm gây hại.
Tội Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 331): Khách thể chính là lợi ích Nhà nước/xã hội/trật tự công. Người phạm tội có thể không biết tin mình loan truyền là sai sự thật một cách tuyệt đối (ví dụ: họ tin vào nguồn tin xuyên tạc), hoặc họ loan truyền những thông tin nội bộ không được công khai, thuộc bí mật Nhà nước. Trọng tâm là việc lợi dụng quyền để gây hại cho lợi ích công.
Mạng xã hội chính là nền tảng thực thi hoặc lợi dụng quyền tự do ngôn luận. Điều 331 được áp dụng khi hành vi đăng tin sai sự thật nhằm mục đích lợi dụng tính chất công khai và phạm vi không biên giới của mạng xã hội để thách thức hoặc làm suy yếu thể chế, vượt xa phạm vi bảo vệ danh dự cá nhân của Điều 156. Sự phân định TNHS do đó được xác định dựa trên đối tượng bị xâm phạm và phạm vi hậu quả mà hành vi gây ra.
Nếu hành vi đăng tải tin sai sự thật trên mạng xã hội gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn đối với trật tự xã hội, khung hình phạt sẽ tăng lên: Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Việc đăng tải thông tin sai sự thật quy mô lớn trên mạng xã hội, gây hoang mang dư luận, hoặc kích động làm mất ổn định xã hội là những ví dụ điển hình để áp dụng khung hình phạt tăng nặng này.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng. Trân trọng cảm ơn!



