Không tố giác tội phạm là gì?
- Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015.
- Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại (i), trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật Hình sự hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại (i), trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật Hình sự hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.
(Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017)
A. Cấu thành tội phạm
1. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội không tố giác tội phạm là trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm. Cụ thể, hành vi không tố giác xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Việc một cá nhân biết rõ hành vi phạm tội nhưng không tố giác đã làm suy giảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
2. Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội không tố giác tội phạm thể hiện qua các dấu hiệu sau:
Hành vi: Hành vi phạm tội được thực hiện dưới dạng không hành động, tức là người phạm tội không thông báo, không trình báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc chuẩn bị, thực hiện hoặc đã thực hiện tội phạm mà mình biết rõ.
Thời điểm và trạng thái của tội phạm gốc: Hành vi không tố giác có thể xảy ra tại một trong ba giai đoạn của tội phạm gốc, bao gồm:
- Giai đoạn chuẩn bị phạm tội: Người phạm tội đang tìm kiếm, chuẩn bị công cụ, phương tiện hoặc tạo lập các điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm.
- Giai đoạn thực hiện tội phạm: Người phạm tội đang tiến hành các hành vi phạm tội nhưng chưa hoàn thành.
- Giai đoạn tội phạm đã hoàn thành: Người phạm tội đã thực hiện xong toàn bộ hành vi cấu thành tội phạm.
Điều kiện bắt buộc: Tội phạm gốc phải thuộc các tội danh được quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự năm 2015 hoặc là các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Đây là dấu hiệu bắt buộc nhằm xác định phạm vi và giới hạn trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác.
1.3. Mặt chủ quan của tội phạm
Tội không tố giác tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi không tố giác của mình là nguy hiểm cho xã hội, có khả năng gây cản trở hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của Nhà nước, nhưng vẫn cố ý không thực hiện nghĩa vụ tố giác. Người phạm tội mong muốn hoặc chấp nhận hậu quả xảy ra do hành vi không tố giác gây ra.
Dấu hiệu quan trọng nhất của mặt chủ quan là yếu tố “biết rõ” tội phạm. “Biết rõ” được hiểu là người phạm tội có nhận thức đầy đủ, chắc chắn về việc người khác đã, đang hoặc sẽ thực hiện hành vi phạm tội, chứ không đơn thuần là nghe tin đồn hoặc suy đoán. Yếu tố này thường được chứng minh thông qua lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, người liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
4. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội không tố giác tội phạm là bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật hình sự cũng quy định những trường hợp được miễn trừ trách nhiệm hình sự theo Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015, bao gồm người thân thích của người phạm tội và người bào chữa, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác. Đây là quy định thể hiện tính nhân đạo nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Điều 390. Tội không tố giác tội phạm
“1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”
Điều 389. Tội che giấu tội phạm
“1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:
a) Các điều từ Điều 108 đến Điều 121 về các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Điều 123 (tội giết người); Điều 141, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 146, các khoản 2 và 3 (tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi); Điều 150, các khoản 2 và 3 (tội mua bán người);
c) Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 152 (tội đánh tráo người dưới 01 tuổi); Điều 153 (tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi); Điều 154 (tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người);
d) Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 173, các khoản 2, 3 và 4 (tội trộm cắp tài sản); Điều 174, các khoản 2, 3 và 4 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 175, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); Điều 178, các khoản 2, 3 và 4 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
đ) Điều 188, các khoản 3 và 4 (tội buôn lậu); Điều 189, khoản 3 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191, các khoản 2 và 3 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196, các khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 205, các khoản 3 và 4 (tội lập quỹ trái phép); Điều 206, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài); Điều 207 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả); Điều 208 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả, các giấy tờ có giá giả khác); Điều 219, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí); Điều 220, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 221, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 222, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 223, các khoản 2 và 3 (tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 224, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 243, các khoản 2 và 3 (tội hủy hoại rừng);
e) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); Điều 253 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 254, khoản 2 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 255 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 256 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 257 (tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 258 (tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 259, khoản 2 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần);
g) Điều 265, các khoản 2, 3 và 4 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 282 (tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy); Điều 299 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 299 (tội khủng bố); Điều 301 (tội bắt cóc con tin); Điều 302 (tội cướp biển); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 305, các khoản 2, 3 và 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ); Điều 309, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân); Điều 311, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc);
h) Điều 329, các khoản 2 và 3 (tội mua dâm người dưới 18 tuổi);
i) Điều 353, các khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài sản); Điều 354, các khoản 2, 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 355, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản); Điều 356, các khoản 2 và 3 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ); Điều 357, các khoản 2 và 3 (tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 358, các khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi); Điều 359, các khoản 2, 3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 364, các khoản 2, 3 và 4 (tội đưa hối lộ); Điều 365, các khoản 2, 3 và 4 (tội làm môi giới hối lộ);
k) Điều 373, các khoản 3 và 4 (tội dùng nhục hình); Điều 374, các khoản 3 và 4 (tội bức cung); Điều 386, khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, dẫn giải, đang bị xét xử);
l) Các điều từ Điều 421 đến Điều 425 về các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.
2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
B. Các khung hình phạt
Căn cứ theo Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015, người phạm tội không tố giác tội phạm có thể bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây:
- Cảnh cáo;
- Cải tạo không giam giữ với thời hạn đến 03 năm;
- Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Đây là khung hình phạt cơ bản, được áp dụng đối với trường hợp hành vi không tố giác có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự.
Bên cạnh đó, pháp luật hình sự cũng ghi nhận các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhằm thể hiện tính nhân đạo và khuyến khích người phạm tội tự giác khắc phục hậu quả. Đối với tội không tố giác tội phạm, tình tiết giảm nhẹ đặc thù là trường hợp người không tố giác đã chủ động can ngăn người phạm tội hoặc có hành động làm hạn chế hậu quả do tội phạm gây ra, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.
Ngoài các tình tiết đặc thù nêu trên, Tòa án còn có thể áp dụng các tình tiết giảm nhẹ chung theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, bao gồm: người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; người phạm tội có thân nhân là cha, mẹ được Nhà nước tặng thưởng giấy khen, bằng khen vì thành tích xuất sắc trong công tác. Việc áp dụng các tình tiết này phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi cũng như thái độ và nỗ lực khắc phục của người phạm tội.
C. Miễn trừ trách nhiệm hình sự
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thiết lập những trường hợp miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với một số chủ thể đặc biệt, nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa nghĩa vụ pháp lý của công dân và các quan hệ xã hội mang tính nhân văn.
Miễn trừ đối với người thân thích: Theo khoản 2 Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác tội phạm. Quy định này phản ánh sự ghi nhận của pháp luật đối với các giá trị gia đình truyền thống. Tuy nhiên, việc miễn trừ không được áp dụng trong trường hợp người thân không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng khác theo quy định của pháp luật.
Miễn trừ đối với người bào chữa: Khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự khi không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc tham gia thực hiện, nếu thông tin này được biết trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bào chữa. Quy định này nhằm bảo đảm nguyên tắc quyền được bào chữa và sự tin cậy cần thiết trong quan hệ giữa luật sư và thân chủ. Việc bảo mật thông tin là điều kiện tiên quyết để luật sư thực hiện hiệu quả chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. Tuy nhiên, pháp luật vẫn đặt ra giới hạn khi loại trừ trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng, nhằm bảo đảm lợi ích chung của xã hội.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua Tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng. Trân trọng cảm ơn!




