Mạo danh công an, ngân hàng để lừa đảo: Xử lý hình sự ra sao?
Trong thời gian gần đây, các hành vi mạo danh cán bộ Công an, nhân viên Ngân hàng để gọi điện, nhắn tin, gửi giấy triệu tập giả hoặc yêu cầu chuyển tiền đang diễn ra ngày càng tinh vi, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản và tâm lý cho nhiều người dân. Không ít nạn nhân vì lo sợ liên quan đến “vụ án”, “tài khoản bất minh” hoặc “vi phạm pháp luật” đã làm theo yêu cầu của đối tượng lừa đảo và mất toàn bộ số tiền tích lũy.
1. Mạo danh Công an, Ngân hàng có phải là hành vi phạm tội?
Về nguyên tắc, pháp luật không xử lý hình sự mọi hành vi mạo danh. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào:
- Mục đích của hành vi mạo danh;
- Có hay không hành vi chiếm đoạt tài sản;
- Phương thức, thủ đoạn thực hiện;
- Hậu quả gây ra cho xã hội và cho người bị hại.
Trên thực tế, hành vi mạo danh Công an, Ngân hàng thường bị xử lý theo một hoặc nhiều tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2025 ( BLHS 2015 )
2. Các tội danh có thể áp dụng đối với hành vi mạo danh
2.1. Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác
Trường hợp đối tượng mạo danh Công an nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, mà chỉ để:
- Hù dọa, gây áp lực tâm lý;
- Tạo “uy tín ảo” để can thiệp trái phép vào công việc của người khác;
- Thực hiện các hành vi trái pháp luật khác,
Thì có thể bị xử lý về Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác theo Điều 339 BLHS 2015:
“Người nào giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác thực hiện hành vi trái pháp luật nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”
Tội danh này thường được áp dụng khi chưa có thiệt hại về tài sản, nhưng hành vi đã xâm phạm nghiêm trọng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức nhà nước.
2.2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Đây là tội danh phổ biến nhất trong các vụ mạo danh Công an, Ngân hàng hiện nay. Theo Điều 174 BLHS 2015, khi đối tượng dùng thủ đoạn gian dối (mạo danh, dựng kịch bản điều tra, giả danh nhân viên ngân hàng…) để làm cho người khác tin tưởng và tự nguyện giao tài sản, thì hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Mức hình phạt được xác định căn cứ vào giá trị tài sản chiếm đoạt và tính chất hành vi, cụ thể:
- Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Áp dụng khi chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp luật định.
- Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
Áp dụng khi phạm tội có tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt, hoặc chiếm đoạt từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
- Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
Áp dụng khi chiếm đoạt từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để phạm tội
- Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
Áp dụng khi chiếm đoạt từ 500.000.000 đồng trở lên hoặc lợi dụng hoàn cảnh đặc biệt như chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị:
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng;
- Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản;
- Cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề từ 01 đến 05 năm.
2.3. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Theo Điều 290 BLHS 2015, trong trường hợp đối tượng sử dụng điện thoại, Internet hoặc công nghệ cao để mạo danh lừa đảo, cơ quan chức năng có thể áp dụng Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015
Tội danh này thường được áp dụng khi:
- Hành vi có yếu tố công nghệ cao;
- Đối tượng hoạt động có tổ chức, xuyên địa bàn;
- Khó xác định danh tính, gây thiệt hại cho nhiều người.
Khung hình phạt của tội này tương đương và có thể nghiêm khắc không kém tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
2.4. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
Trong nhiều vụ việc, để tăng mức độ “thuyết phục”, các đối tượng còn:
- Làm giả giấy triệu tập của Công an;
- Làm giả thẻ ngành;
- Làm giả văn bản của Ngân hàng.
Khi đó, ngoài các tội danh nêu trên, người phạm tội còn có thể bị xử lý thêm về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 BLHS 2015.
Mức hình phạt có thể lên đến 07 năm tù, kèm theo phạt tiền bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
3. Lưu ý quan trọng để phòng tránh rủi ro pháp lý
Cần khẳng định rằng và lưu ý rằng:
- Cơ quan Công an không làm việc qua điện thoại để yêu cầu chuyển tiền;
- Ngân hàng không yêu cầu cung cấp mã OTP, mật khẩu hay chuyển tiền để “xác minh”;
- Mọi giấy triệu tập hợp pháp đều được tống đạt trực tiếp theo đúng trình tự tố tụng.
Khi có dấu hiệu nghi ngờ, người dân cần:
- Bình tĩnh, không làm theo yêu cầu;
- Liên hệ trực tiếp với cơ quan Công an địa phương hoặc Ngân hàng để xác minh;
- Trình báo ngay khi có dấu hiệu bị lừa đảo.
Trên đây là nội dung tư vấn pháp lý liên quan đến hành vi mạo danh Công an, Ngân hàng để lừa đảo. Trường hợp Quý khách cần làm rõ thêm từng vấn đề cụ thể hoặc cần hỗ trợ pháp lý chuyên sâu, Công ty Luật Sao Sáng sẵn sàng tư vấn, hướng dẫn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật. Vui lòng liên hệ qua email: luatsaosang@gmail.com hoặc số điện thoại: 0936.65.3636 để được hỗ trợ kịp thời. Trân trọng cảm ơn !




