Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, hoạt động sản xuất, kinh doanh phát sinh ngày càng nhiều chất thải nguy hại. Nếu không được quản lý, thu gom và xử lý đúng quy định, chất thải nguy hại có thể gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và hệ sinh thái. Trước thực trạng đó, pháp luật hình sự Việt Nam đã quy định tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại nhằm xử lý nghiêm các hành vi xâm hại đến môi trường và lợi ích chung của xã hội.

1. Chất thải nguy hại là gì?
Chất thải nguy hại là các loại chất thải có chứa yếu tố độc hại, dễ cháy nổ, ăn mòn, lây nhiễm hoặc các đặc tính nguy hiểm khác, có khả năng gây tác động xấu đến môi trường và sức khỏe con người. Chất thải nguy hại thường phát sinh từ hoạt động công nghiệp, y tế, nông nghiệp, xây dựng và một số lĩnh vực sản xuất khác.
Việc quản lý chất thải nguy hại phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý theo đúng quy trình kỹ thuật và pháp luật về bảo vệ môi trường.
2. Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là gì?
Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là hành vi của cá nhân hoặc tổ chức không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại, gây ô nhiễm môi trường hoặc đe dọa gây hậu quả nghiêm trọng.
Hành vi phạm tội có thể bao gồm việc xả thải trái phép, chôn lấp chất thải nguy hại không đúng nơi quy định, vận chuyển trái phép chất thải nguy hại hoặc giao chất thải nguy hại cho đơn vị không đủ điều kiện xử lý.
3. Dấu hiệu cấu thành tội phạm
Chủ thể của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại có thể là cá nhân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại theo quy định của pháp luật. Trên thực tế, chủ thể phạm tội thường là người đứng đầu cơ sở sản xuất, kinh doanh hoặc người được giao trách nhiệm quản lý chất thải.
Mặt khách quan thể hiện ở hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại như không phân loại chất thải, không đăng ký chủ nguồn thải, xử lý chất thải không đúng quy trình kỹ thuật, hoặc cố ý thải bỏ chất thải nguy hại ra môi trường. Hậu quả của hành vi phạm tội là gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe con người và trật tự an toàn xã hội.
Mặt chủ quan của tội phạm thể hiện ở chỗ người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý hoặc vô ý. Trong đó, lỗi cố ý thường gặp khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại nhưng vẫn thực hiện nhằm giảm chi phí xử lý hoặc trục lợi kinh tế.
4. Hình phạt đối với tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Mức hình phạt tại khoản 1 Điều 236 Bộ Luật hình sự: Người nào có thẩm quyền mà cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định của pháp luật chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm dưới trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.
- Mức hình phạt tại khoản 2 Điều 236 Bộ Luật hình sự: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 400.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a) Chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy từ 5.000 kilôgam đến dưới 10.000 kilôgam; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép;
b) Có tổ chức;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm.
- Mức hình phạt tại khoản 3 Điều 236 Bộ Luật hình sự: Phạm tội thuộc trường hợp chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy 10.000 kilôgam trở lên; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm trên trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
- Khung hình phạt khác: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Kết luận
Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả lâu dài đối với môi trường và sức khỏe con người. Việc tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ môi trường sống chung.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng. Trân trọng cảm ơn!




