Tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên
Khu bảo tồn thiên nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ hệ sinh thái, đa dạng sinh học và các loài động, thực vật quý hiếm. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra nhiều hành vi xâm phạm khu bảo tồn thiên nhiên như khai thác rừng trái phép, săn bắt động vật hoang dã, xây dựng công trình trái quy định. Những hành vi này không chỉ gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường mà còn có thể bị xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.

1. Quy định pháp luật về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh và khu bảo vệ cảnh quan. Việc quản lý các khu vực này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, lâm nghiệp, đa dạng sinh học và các văn bản pháp luật có liên quan.
Nhà nước nghiêm cấm các hành vi xâm hại đến khu bảo tồn thiên nhiên, bao gồm việc chặt phá rừng, khai thác tài nguyên trái phép, săn bắt, buôn bán động vật hoang dã, cũng như các hành vi làm suy thoái hệ sinh thái tự nhiên.
2. Tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên là gì?
Tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên là hành vi cố ý hoặc vô ý thực hiện các hoạt động trái với quy định của pháp luật trong phạm vi khu bảo tồn thiên nhiên, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến môi trường, hệ sinh thái, tài nguyên sinh học.
Hành vi phạm tội thường xảy ra khi cá nhân hoặc tổ chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vì mục đích kinh tế mà thực hiện các hoạt động bị pháp luật cấm trong khu bảo tồn thiên nhiên.
3. Dấu hiệu cấu thành tội phạm
Chủ thể của tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên có thể là cá nhân đủ năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại theo quy định của pháp luật. Trong nhiều trường hợp, chủ thể phạm tội là người được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ khu bảo tồn nhưng không thực hiện đúng trách nhiệm của mình.
Mặt khách quan thể hiện ở các hành vi vi phạm quy định quản lý khu bảo tồn thiên nhiên như cho phép hoặc trực tiếp khai thác trái phép tài nguyên, phá hoại cảnh quan, làm suy giảm đa dạng sinh học hoặc tiếp tay cho các hành vi vi phạm khác. Hậu quả của hành vi phạm tội là gây thiệt hại đến môi trường tự nhiên, làm mất cân bằng sinh thái hoặc gây nguy cơ tuyệt chủng đối với các loài quý hiếm.
Mặt chủ quan thể hiện ở việc người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Trong đó, phổ biến là lỗi cố ý, khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện vì lợi ích cá nhân hoặc lợi ích kinh tế.
4. Hình phạt đối với tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên
4.1 Đối với cá nhân phạm tội
Mức hình phạt tại khoản 1 Điều 245 Bộ Luật hình sự: Người nào vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại đến cảnh quan, hệ sinh thái tự nhiên trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn thiên nhiên có tổng diện tích từ 300 mét vuông (m2) đến dưới 500 mét vuông (m2);
c) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong những hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Mức hình phạt tại khoản 2 Điều 245 Bộ Luật hình sự: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Gây thiệt hại về tài sản 200.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại đến cảnh quan, hệ sinh thái tự nhiên trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn thiên nhiên có tổng diện tích 500 mét vuông (m2) trở lên;
c) Có tổ chức;
d) Sử dụng công cụ, phương tiện, biện pháp bị cấm;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
Mức hình phạt tại khoản 3 Điều 245 Bộ Luật hình sự: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4.2 Đối với pháp nhân phạm tội
– Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;
– Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
– Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
– Khung hình phạt bổ sung: Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Kết luận
Tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến môi trường và lợi ích chung của cộng đồng. Việc nhận diện đúng hành vi phạm tội và áp dụng nghiêm minh các quy định của pháp luật là yếu tố then chốt nhằm bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng. Trân trọng cảm ơn!




