Hủy việc kết hôn trái pháp luật
Tự do kết hôn là quyền cơ bản và thiêng liêng của mỗi con người, đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại Điều 36. Có thể thấy mặc dù ai cũng có quyền kết hôn nhưng để kết hôn hợp pháp và được Nhà nước công nhận thì phải tuân thủ theo quy định pháp luật. Khi không thỏa mãn được các quy định đó, việc kết hôn sẽ bị coi là trái pháp luật. Khác với ly hôn là sự đổ vỡ của một cuộc hôn nhân hợp pháp, việc hủy kết hôn trái pháp luật là sự phủ nhận hoàn toàn giá trị pháp lý của một cuộc hôn nhân ngay từ thời điểm bắt đầu. Bài viết này sẽ cung cấp thông tin, làm rõ hơn về hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Kết hôn trái pháp luật là gì? Hủy việc kết hôn trái pháp luật là gì?
Kết hôn trái pháp luật được quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (sau đây gọi là Luật HNGĐ): “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.”
Như vậy, kết hôn trái pháp luật là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do luật định, bao gồm 4 điều kiện:
-
Độ tuổi kết hôn: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
-
Yếu tố tự nguyện: Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
-
Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
-
Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định.
Nếu nam, nữ đăng ký kết hôn nhưng một hoặc cả hai bên vi phạm bất cứ điều kiện nào thì đều bị coi là kết hôn trái pháp luật.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật là việc Tòa án có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt quan hệ hôn nhân khi:
-
Có yêu cầu từ cá nhân, tổ chức, cơ quan có thẩm quyền;
-
Có căn cứ xác định việc kết hôn thuộc 1 trong các trường hợp kết hôn trái pháp luật và có căn cứ để quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật theo luật định.
Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật
Căn cứ để hủy việc kết hôn trái pháp luật đã được nêu rõ tại Điều 2 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP (sau đây gọi là Thông tư 01/2016) , cụ thể:
-
Độ tuổi kết hôn
“Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật HNGĐ là trường hợp nam đã đủ hai mươi tuổi, nữ đã đủ mười tám tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh.
Đối với trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh:
-
Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;
-
Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh.
Như vậy, chỉ cần tại thời điểm đăng ký kết hôn mà một hoặc cả hai bên đều không đủ tuổi theo quy định thì đã có căn cứ để hủy việc kết hôn trái pháp luật.
-
Yếu tố tự nguyện
“Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật HNGĐ là trường hợp nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau hoàn toàn tự do theo ý chí của họ, không phụ thuộc vào ý chí của bên thứ ba.
-
Hành vi lừa dối kết hôn
Khoản 3 Điều 2 Thông tư 01/2016 quy định: “Lừa dối kết hôn” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn. Có thể thấy Tòa án sẽ xác định việc đăng ký kết hôn hành vi lừa dối kết hôn khi có đồng thời 2 yếu tố:
-
Vợ/chồng hoặc người thứ 3 cố ý làm cho bên còn lại hiểu sai lệch dẫn đến việc đồng ý kết hôn;
-
Nếu không có hành vi lừa dối thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn.
-
Hành vi kết hôn với người đang có vợ/chồng
“Người đang có vợ hoặc có chồng” là người thuộc một trong các trường hợp:
-
Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
-
Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
-
Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.
Như vậy, chỉ cần một bên nam/nữ đăng ký kết hôn với người thuộc các trường hợp trên sẽ bị coi là kết hôn trái pháp luật.
Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
Điều 10 Luật HNGĐ đã quy định về người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, bao gồm:
-
Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn;
-
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bao gồm:
-
Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
-
Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
-
Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
-
Hội liên hiệp phụ nữ.
-
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức thẩm quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Hậu quả pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật
Điều 12 Luật HNGĐ đã nêu rõ hậu quả pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật:
-
Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng: Quan hệ nhân thân giữa hai bên là họ không phải vợ chồng từ ngày kết hôn trái pháp luật đến ngày bị hủy, họ chưa bao giờ được coi là vợ chồng;
-
Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn;
-
Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật HNGĐ: Được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con.
Kết luận
Hủy việc kết hôn trái pháp luật là một việc cần thiết, quan trọng để thiết lập một trật tự xã hội chuẩn mực, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên liên quan, đồng thời giải quyết được các hệ lụy và tài sản cho các bên một cách công bằng. Ý nghĩa nhân văn sâu sắc nhất của hủy việc kết hôn trái pháp luật chính là bảo vệ xã hội, duy trì chế độ một vợ một chồng và các nguyên tắc hôn nhân gia đình của Nhà nước Việt Nam.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng. Trân trọng cảm ơn!




