Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có được kết hôn không?
Quyền kết hôn là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Sở dĩ đây là một quyền thiêng liêng bởi kết hôn chính sự bắt nguồn của một gia đình, mà gia đình lại là tế bào của xã hội, nền tảng tạo lập nên một xã hội bền vững. Tuy nhiên, khi đối tượng kết hôn là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, câu chuyện trở thành một bài toán pháp lý hóc búa. Liệu người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có được kết hôn hay không? Bài viết này sẽ trả lời câu hỏi trên, góp phần giúp những người có trường hợp đặc biệt bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Kết hôn là gì?
Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (sau đây gọi là Luật HNGĐ 2014) quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.”
Theo đó, kết hôn gồm 4 nội dung cơ bản:
-
Thứ nhất, chủ thể kết hôn gồm một bên là nam và một bên là nữ, phải là hai người khác giới tính với nhau. Đây là quan điểm về hôn nhân của Nhà nước Việt Nam, Nhà nước ta chỉ thừa nhận hôn nhân khác giới mà không thừa nhận hôn nhân đồng giới (khoản 2 Điều 8 Luật HNGĐ 2014)
-
Thứ hai, bản chất của kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng. Mục đích cốt lõi của hôn nhân giữa nam và nữ là sự gắn kết bền vững, cùng nhau thiết lập tổ ấm, thực hiện chức năng sinh sản và giáo dục con cái.
-
Thứ ba, chỉ có thể kết hôn khi nam, nữ đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.
-
Thứ tư, việc kết hôn phải thực hiện thông qua thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chỉ khi được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì việc kết hôn mới có giá trị pháp lý và có hiệu lực kể từ ngày đăng ký. Thông qua việc đăng ký, Nhà nước kiểm soát việc kết hôn, bảo đảm lợi ích của bản thân người kết hôn cũng như của người khác có liên quan.
Điều kiện kết hôn
Điều kiện kết hôn là những yêu cầu do Nhà nước đặt ra, chỉ khi đáp ứng được yêu cầu đó thì mới có quyền kết hôn. Điều kiện kết hôn quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ 2014:
“Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.”
Theo đó, người kết hôn phải đảm bảo các điều kiện sau:
Người kết hôn phải đủ tuổi kết hôn: Theo quan điểm của Nhà nước ta, để được kết hôn thì nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên. Việc xác định độ tuổi kết hôn là cần thiết bởi phải đạt đến một độ tuổi nhất định, cá nhân mới có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi để tham gia vào quan hệ pháp luật và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Quy định về tuổi kết hôn chỉ xác định độ tuổi tối thiểu, từ ngày đủ tuổi kết hôn, nam, nữ có quyền kết hôn vào bất cứ lúc nào nếu họ đồng thời đáp ứng được các điều kiện khác.
Yếu tố tự nguyện: Là việc nam, nữ kết hôn hoàn toàn tự do về ý chí, nhận thức được hành vi kết hôn của mình và mong muốn kết hôn. Nếu nam, nữ trong tình trạng không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị lừa dối, cưỡng ép thì sẽ không đáp ứng điều kiện này. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để việc kết hôn hợp pháp và có giá trị pháp lý.
Không mất năng lực hành vi dân sự: Theo Bộ Luật Dân sự năm 2015, người mất năng lực hành vi dân sự là người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, bị Tòa án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần (Điều 22 Bộ Luật Dân sự năm 2015). Vì vậy, người này luôn trong tình trạng không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình nên họ sẽ không thể đảm bảo điều kiện thứ hai - yếu tố tự nguyện.
Các trường hợp cấm kết hôn: Theo quy định tại a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ 2014, các trường hợp cấm kết hôn là:
-
Kết hôn giả tạo: Là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài hoặc để hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình (khoản 11 Điều 3 Luật HNGĐ 2014);
-
Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn: Đây là các trường hợp không đáp ứng đủ các điều kiện để được kết hôn, ví dụ như tảo hôn là kết hôn khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi; việc cưỡng ép và lừa dối kết hôn không đảm bảo được yếu tố tự nguyện;
-
Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ: Đây là quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng của Nhà nước Việt Nam;
-
Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng: Theo khoa học, con sinh ra mà cha, mẹ là những người có quan hệ gần về huyết thống thì thường bị bệnh tật, dị dạng (câm, điếc, bạch tạng,...) hoặc thậm chí là có thể tử vong. Quy định này nhằm đảm bảo cho con sinh ra được phát triển khỏe mạnh, đồng thời cũng đảm bảo không thực hiện trái với đạo lí xã hội.
Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là gì? Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có được kết hôn không?
Khoản 1 Điều 24 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.”
Như vậy, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản gia đình và bị Tòa án tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể tự mình thực hiện, xác lập các giao dịch dân sự nếu có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật mà không cần phải có người giám hộ.
Vậy những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có được kết hôn hay không?
Về mặt pháp lý, pháp luật không cấm người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự kết hôn mà pháp luật chỉ không cho phép người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn. Điểm khác biệt rõ nhất ở hai loại người này là khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình. Nếu người mất năng lực hành vi dân sự là người không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác thì người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình. Do vậy, những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn đảm bảo được yếu tố tự nguyện. Đồng thời, cần phải xem xét người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có đáp ứng đủ các điều kiện để kết kết hôn hay không? Nếu họ đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết thì vẫn có thể kết hôn.
Kết luận
Như vậy, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được kết hôn nếu đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Quyền kết hôn là quyền cơ bản của con người, đối tượng kết hôn cần đảm bảo được đầy đủ các yêu cầu của Nhà nước thì việc kết hôn mới giá trị pháp lý.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng. Trân trọng cảm ơn!




