Chủ thể quyền tác giả
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, quyền tác giả là một chế định đặc thù nhằm bảo hộ các thành quả sáng tạo của con người. Để các quyền năng được thực thi trên thực tế, vấn đề tiên quyết và có ý nghĩa quan trọng chính là xác định đúng chủ thể quyền tác giả. Việc xác định đúng đắn chủ thể quyền tác giả không chỉ là cơ sở để bảo vệ các quyền nhân thân gắn liền với cá nhân người sáng tạo, mà còn là nền tảng thiết yếu để giải quyết các tranh chấp có hiệu quả, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi người.
Quyền tác giả là gì?
Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) (sau đây gọi là Luật SHTT 2005), quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Như vậy, quyền tác giả là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm của họ được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.
Chủ thể của quyền tác giả là ai?
Có 2 loại chủ thể của quyền tác giả: Tác giả và Chủ sở hữu quyền tác giả.
1. Tác giả
Khái niệm
Theo khoản 1 Điều 13 Luật SHTT 2005, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm.
Như vậy, để một người được coi là tác giả tác phẩm thì người đó phải tự mình trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm của mình. Người hỗ trợ, đóng góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo tác phẩm không phải là tác giả.
Ví dụ:
-
A tự sáng tác ra một bài hát, A là tác giả bài hát đó.
-
Huấn luyện viên xiếc hướng dẫn một con khỉ vẽ tranh, con khỉ không phải là tác giả bức tranh vì không phải là con người.
-
Thầy cô cung cấp tài liệu cho sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp, sinh viên là tác giả của khóa luận tốt nghiệp đó, thầy cô không phải là tác giả vì chỉ cung cấp tài liệu, không trực tiếp tạo ra sản phẩm.
Phân loại
Dựa vào số lượng người sáng tạo ra tác phẩm, có:
-
Tác giả đơn nhất: Người duy nhất sáng tạo toàn bộ tác phẩm và được hưởng quyền tác giả đối với toàn bộ tác phẩm do họ sáng tạo ra.
-
Đồng tác giả:
-
Là từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh
-
Việc thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm có đồng tác giả phải có sự thỏa thuận của các đồng tác giả, trừ trường hợp tác phẩm có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác hoặc luật khác có quy định khác.
-
2. Chủ sở hữu quyền tác giả
Khái niệm
Theo Điều 36 Luật SHTT 2005, quy định: “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.”
Như vậy, chủ sở hữu quyền tác giả có thể là cá nhân hoặc tổ chức mà nắm giữ một, một số hoặc toàn quyền tài sản của quyền tác giả.
Phân loại
Có thể chia chủ sở hữu quyền tác giả thành các loại: Chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả, Chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả, Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước và Chủ sở hữu quyền tác giả là công chúng.
a. Chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả
Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả: “Tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm có các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.”(Điều 37 Luật SHTT 2005). Như vậy, với trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ có toàn quyền tác giả đối với tác phẩm của mình bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Chủ sở hữu quyền tác giả là đồng tác giả:
Theo Điều 38 Luật SHTT 2005 quy định:
“1. Các đồng tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm có chung các quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với tác phẩm đó.
2. Các đồng tác giả sáng tạo ra tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có các quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với phần riêng biệt đó.”
Theo đó, chủ sở hữu quyền tác là đồng tác giả sẽ có chung có quyền nhân thân và quyền tài sản, nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có toàn quyền tác giả với phần riêng biệt đó.
b. Chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả
-
Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 Luật SHTT 2005, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Khoản 1 Điều 39 Luật SHTT 2005) Ở trường hợp này, có tồn tại quan hệ lao động giữa tác giả và tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả đó.
Ví dụ: Nhà thiết kế sáng tạo ra linh vật cho công ty chủ quản A, nhà thiết kế là tác giả nhưng công ty A mới là chủ sở hữu linh vật đó.
-
Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 Luật SHTT 2005, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Khoản 2 Điều 39 Luật SHTT 2005) Đối với trường hợp này, không tồn tại quan hệ lao động mà chỉ tồn tại hợp đồng có đối tượng là công việc sáng tạo ra tác phẩm.
Ví dụ: Công ty A thỏa thuận hợp đồng với các họa sĩ tự do để vẽ linh vật cho công ty, họa sĩ đó không thuộc công ty. -
Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 Luật SHTT 2005 (Điều 40 Luật SHTT 2005)
-
Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 Luật SHTT 2005 theo thỏa thuận trong hợp đồng là chủ sở hữu quyền tác giả (Điều 41 Luật SHTT 2005)
Ví dụ: Ca sĩ ký kết hợp đồng chuyển quyền biểu diễn độc quyền tác phẩm của nhạc sĩ, nhưng những quyền khác vẫn thuộc về ông nhạc sĩ.
c. Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước
Khoản 1 Điều 42 Luật SHTT 2005 quy định:
“Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm sau đây:
a) Tác phẩm khuyết danh;
b) Tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản;
c) Tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.”
Như vậy, đối với một số tác phẩm đặc biệt như trên thì Nhà nước sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả của các tác phẩm đó.
d. Chủ sở hữu quyền tác giả là công chúng
Theo Điều 43 Luật SHTT 2005, tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại Điều 27 của Luật SHTT 2005 thì thuộc về công chúng và mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều 43 nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả quy định tại Điều 19 của Luật SHTT 2005.
Kết luận
Như vậy, chủ thể quyền tác giả bao gồm tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Việc nhận diện đúng đắn và đầy đủ về chủ thể quyền tác giả không chỉ là xác định một cá nhân hay tổ chức, mà còn là xác lập các quyền năng đối với một thành quả sáng tạo trí tuệ.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng. Trân trọng cảm ơn!




