Chia Sẻ Tin Sai Sự Thật Có Bị Xử Lý Hình Sự?
Chỉ một cú nhấp "chia sẻ" trên mạng xã hội, nhiều người vô tình lan truyền một thông tin chưa được kiểm chứng, thậm chí là tin bịa đặt. Không ít trường hợp người đăng tin, chia sẻ tin sai sự thật đã bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vậy khi nào việc đăng, chia sẻ thông tin sai sự thật chỉ bị xử phạt hành chính, khi nào bị xử lý hình sự? Người chia sẻ lại tin của người khác có bị coi là đồng phạm không? Cần làm gì để tránh rủi ro pháp lý khi sử dụng mạng xã hội?
1. Thế nào là hành vi đăng, chia sẻ thông tin sai sự thật?
Thông tin sai sự thật được hiểu là những nội dung không đúng với thực tế khách quan, có thể là tin tự bịa đặt, tin bị bóp méo, cắt ghép, hoặc tin thật nhưng bị xuyên tạc, suy diễn sai lệch bản chất sự việc.
Hành vi vi phạm không chỉ giới hạn ở người đăng tải đầu tiên. Người chia sẻ lại, bình luận thêm thắt làm sai lệch thông tin, hoặc cố ý lan truyền dù biết rõ đó là tin sai sự thật, cũng có thể phải chịu trách nhiệm tương ứng với hành vi của mình.
2. Khi nào chỉ bị xử phạt hành chính?
Trường hợp hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì tùy tính chất, hành vi cụ thể có thể bị xử phạt vi phạm hành chính căn cứ theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 14/2022/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi có liên quan
Theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc trên mạng xã hội có thể bị phạt tiền, kèm theo biện pháp khắc phục hậu quả là buộc gỡ bỏ thông tin. Mức phạt theo quy định này là từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với tổ chức; cá nhân bằng 1/2 mức phạt của tổ chức theo nguyên tắc xử phạt quy định tại Nghị định.
Đây là hướng xử lý phổ biến khi thông tin sai sự thật chưa xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác hoặc chưa gây ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự.
3. Khi nào bị xử lý hình sự?
Việc đăng, chia sẻ thông tin sai sự thật có thể bị xử lý hình sự khi hành vi có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017,2025
Một số tội danh thường được xem xét khi có hành vi đăng, chia sẻ tin sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng:
-
Tội làm nhục người khác (Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017,2025): xử lý người có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì tùy hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định về bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân.
● Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017,2025): áp dụng khi hành vi đưa thông tin trái phép lên mạng gây dư luận xấu, thu lợi bất chính hoặc gây thiệt hại từ mức độ nhất định trở lên.
● Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 331 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017,2025): áp dụng khi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet để đăng tải thông tin sai sự thật xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
● Tội vu khống (Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017,2025): áp dụng khi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Ví dụ, một người cố tình đăng tải thông tin bịa đặt về việc một cá nhân cụ thể vi phạm pháp luật, khiến người đó bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, công việc, có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội vu khống, thay vì chỉ bị xử phạt hành chính.
Mức độ xử lý cụ thể phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả thực tế xảy ra và động cơ, mục đích của người thực hiện.
4. Người chia sẻ lại tin sai sự thật của người khác có bị coi là đồng phạm không?
Tùy vào người chia sẻ lại thông tin sai sự thật đó có cùng ý chí với người phạm tội hay không.
Người chia sẻ lại thông tin sai sự thật của người khác không đương nhiên bị coi là đồng phạm. Để xác định đồng phạm, cần chứng minh người chia sẻ biết rõ tính chất sai sự thật và tính chất nguy hiểm của thông tin, đồng thời có sự cố ý và cùng ý chí với người khác trong việc thực hiện tội phạm. Nếu người chia sẻ không biết thông tin là sai hoặc chỉ vô ý chia sẻ thì về nguyên tắc không có căn cứ xác định họ là đồng phạm. Tuy nhiên, trong trường hợp người chia sẻ biết rõ thông tin sai sự thật nhưng vẫn cố ý phát tán, hành vi này có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý độc lập hoặc, nếu có sự thống nhất ý chí và cùng thực hiện một tội phạm với người đăng ban đầu, có thể bị xác định là đồng phạm theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025.
5. Người dùng mạng xã hội cần lưu ý gì để tránh rủi ro?
Bước 1: Kiểm chứng thông tin trước khi đăng, chia sẻ. Đối chiếu với các nguồn tin chính thống, tránh chia sẻ thông tin chỉ dựa trên tiêu đề giật gân hoặc nguồn không rõ ràng.
Bước 2: Không suy diễn, thêm thắt khi chia sẻ lại. Việc bình luận, suy diễn thêm thông tin không có căn cứ có thể khiến người chia sẻ phải chịu trách nhiệm nặng hơn so với việc chỉ chia sẻ nguyên văn.
Bước 3: Gỡ bỏ, đính chính và xin lỗi ngay khi phát hiện thông tin sai. Nếu phát hiện đã đăng hoặc chia sẻ thông tin sai sự thật, nên chủ động gỡ bỏ, đính chính sớm nhất có thể.
Bước 4: Thận trọng khi đăng tải thông tin liên quan đến cá nhân, tổ chức cụ thể. Đặc biệt là các nội dung liên quan đến uy tín, danh dự của người khác, cần có căn cứ rõ ràng trước khi đăng tải công khai.
Bước 5: Tìm hiểu quy định pháp luật liên quan. Người dùng mạng xã hội, đặc biệt là người có ảnh hưởng, lượng theo dõi lớn, nên chủ động tìm hiểu quy định pháp luật về an ninh mạng, xử lý vi phạm hành chính và hình sự liên quan đến việc đăng tải thông tin.
Kết luận
Không phải mọi trường hợp đăng, chia sẻ thông tin sai sự thật trên mạng xã hội đều bị xử lý hình sự, nhưng khi hành vi gây hậu quả nghiêm trọng, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc ảnh hưởng đến an ninh trật tự, và đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người thực hiện hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các tội danh tương ứng trong Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, trước khi đăng tải hoặc chia sẻ bất kỳ thông tin nào trên mạng xã hội, mỗi người nên kiểm chứng kỹ nguồn tin, cân nhắc hậu quả có thể xảy ra, tránh vì một phút bốc đồng mà phải đối mặt với trách nhiệm pháp lý không đáng có.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng. Trân trọng cảm ơn!
Từ khóa: đăng tin sai sự thật, chia sẻ thông tin sai sự thật, tội vu khống, lợi dụng quyền tự do dân chủ, xử phạt thông tin mạng xã hội, trách nhiệm hình sự thông tin mạng




