Trợ cấp thôi việc
Trong quan hệ lao động, việc chấm dứt hợp đồng không chỉ là sự kết thúc về mặt công việc mà còn làm phát sinh các nghĩa vụ tài chính nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Một trong những chế định mang tính nhân văn được quy định tại Bộ luật Lao động 2019 là trợ cấp thôi việc. Đây là khoản bù đắp tài chính cho quá trình cống hiến của người lao động, đồng thời là trách nhiệm pháp lý bắt buộc của người sử dụng lao động khi thỏa mãn các điều kiện nhất định. Bài viết này sẽ cung cấp các thông tin cần thiết về khoản trợ cấp thôi việc mà người lao động có thể được nhận.
Trợ cấp thôi việc là gì?
Trợ cấp thôi việc là khoản tiền do người sử dụng lao động trả cho người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động. Khoản tiền hỗ trợ tài chính này nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động trong thời gian chờ đợi để kiếm được việc mới. Tuy nhiên, không phải người lao động nào sau khi nghỉ việc cũng được nhận khoản trợ cấp này mà phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện hưởng theo quy định.
Điều kiện để người lao động được hưởng trợ cấp thôi việc
Căn cứ theo Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019 (sau đây gọi là BLLĐ 2019), người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên trong các trường hợp sau:
-
Hết hạn hợp đồng lao động;
-
Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;
-
Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động;
-
Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
-
Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết;
-
Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết;
-
Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định;
-
Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định.
Như vậy, người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên và thuộc một trong các trường hợp trên sẽ được người sử dụng lao động trả trợ cấp thôi việc.
Các trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc
Trường hợp 1: Người lao động không làm việc thường xuyên đủ 12 tháng
Dựa vào Điều 46 BLLĐ 2019, người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên và thuộc các trường hợp phía trên thì sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc. Do đó, đối với người làm động không làm việc thường xuyên đủ 12 tháng sẽ không được nhận trợ cấp thôi việc. Trợ cấp thôi việc giống như một khoản tiền để tri ân, ghi nhận công sức đóng góp của người lao động đối với người sử dụng lao động, vì vậy, khi thời gian cống hiến chưa đủ để được ghi nhận thì người lao động sẽ không được nhận khoản tiền trợ cấp này.
Trường hợp 2: Người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội
Căn cứ theo Điều 46 BLLĐ 2019 và điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động (sau đây gọi là Nghị định 145/2020), người lao động mà đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì họ cũng sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc. Trợ cấp thôi việc là khoản hỗ trợ khi thôi việc để đảm bảo cuộc sống trong thời gian đi tìm việc mới, còn người nghỉ việc để nhận lương hưu không còn nhu cầu tìm việc làm, đồng thời họ đã có khoản tiền khác để bảo đảm cuộc sống là tiền lương hưu. Do đó, họ không được hưởng trợ cấp thôi việc.
Trường hợp 3: Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động theo các khoản 5, 8, 11, 12, 13 theo Điều 34 BLLĐ 2019 (5 trường hợp nhỏ)
Điều 46 BLLĐ 2019 đã nêu các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động trong Điều 34 BLLĐ 2019 mà được hưởng trợ cấp thôi việc, vì vậy, các trường hợp còn lại sẽ là các trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc, bao gồm:
-
Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
-
Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải;
-
Người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định;
-
Giấy phép lao động hết hiệu lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định;
-
Trường hợp thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động mà thử việc không đạt yêu cầu hoặc một bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc.
5 trường hợp trên là các trường hợp mà người lao động không được nhận trợ cấp thôi việc bởi các lý do như người lao động đã vi phạm lỗi nên mất quyền được hưởng trợ cấp thôi việc (bị trục xuất, bị xử lý kỷ luật sa thải) hay là do giấy phép đã hết hạn hoặc do trong thời gian thử việc nên chưa thể ghi nhận sự đóng góp của người lao động.
Trường hợp 4: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Theo khoản 1 Điều 40 BLLĐ 2019, người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc. Bởi người lao động đã có hành vi bất hợp pháp khiến hợp đồng lao động chấm dứt nên họ sẽ không được hưởng quyền lợi là được nhận trợ cấp thôi việc.
Trường hợp 5: Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên
Theo điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định 145/2020, người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 BLLĐ 2019 thì sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc. Tương tự như trường hợp 4, người lao động đã có hành vi vi phạm nghiêm trọng mà không có lý do chính đáng (được coi là có lý do chính đáng theo khoản 4 Điều 125 BLLĐ 2019) nên không được hưởng quyền nhận trợ cấp thôi việc.
Trường hợp 6: Thời gian làm việc thực tế bằng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp
Khoản 2 Điều 46 BLLĐ 2019 quy định về cách xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc:
Thời gian tính trợ cấp thôi việc = Tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế - Thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp - Thời gian làm việc đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm
Do đó, khi thời gian làm việc thực tế = thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì thời gian tính trợ cấp thôi việc sẽ là 0. Như vậy, họ không được nhận trợ cấp thôi việc.
Kết luận
Như vậy, trợ cấp thôi việc không đơn thuần là một khoản thanh toán tài chính khi chấm dứt hợp đồng lao động, mà còn là một chế định pháp lý quan trọng thể hiện tính nhân văn và trách nhiệm xã hội trong quan hệ lao động, đảm bảo cuộc sống cho người lao động sau khi nghỉ việc trong thời gian kiếm việc làm.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng. Trân trọng cảm ơn!




