Tội cướp tài sản: Sự nguy hiểm tột độ trong xã hội
Từ trước tới nay, thực trạng về tội cướp tài sản vẫn luôn diễn ra vô cùng phổ biến và phức tạp. Gần đây nhất, vụ việc xảy ra vào ngày 14/01/2026, nghi phạm sát hại liên tiếp hai phụ nữ ở Hưng Yên để cướp tài sản đã làm dấy lên lo ngại về an toàn của con người trong xã hội hiện nay khi hành vi phạm tội cướp tài sản không chỉ dừng lại ở việc xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn trực tiếp đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của bị hại. Do đó, việc hiểu rõ quy định pháp luật về tội cướp tài sản là cần thiết để nhận diện rõ bản chất của tội phạm, đồng thời còn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Căn cứ pháp lý về tội cướp tài sản
Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
h) Tái phạm nguy hiểm
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản
Chủ thể: Là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Cụ thể, là người từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản (Điều 12 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Khách thể: Là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu được luật hình sự bảo vệ. Người phạm tội cướp tài sản bằng hành vi của mình xâm phạm đến thân thể của người khác rồi qua đó có thể xâm phạm quan hệ sở hữu của bị hại. Vì vậy, quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu đều được coi là khách thể trực tiếp của tội cướp tài sản.
Chủ quan: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết và mong muốn hành vi của mình (dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể kháng cự được) được thực hiện làm suy giảm khả năng chống cự của người bị tấn công. Bên cạnh đó, mục đích phạm tội được quy định là chiếm đoạt tài sản.
Khách quan: Có 3 dạng hành vi khách quan của tội cướp tài sản, đó là:
- Hành vi dùng vũ lực: Là hành vi dùng sức mạnh (có hoặc không có công cụ, phương tiện) tác động vào thân thể của người khác nhằm làm suy giảm sự chống cự của họ. Người bị tấn công có thể là chủ tài sản, là người có trách nhiệm quản lý hay bảo vệ tài sản hoặc người khác mà người phạm tội cho rằng họ đã hoặc có khả năng ngăn cản việc chiếm đoạt tài sản của mình.
- Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: Là hành vi người phạm tội bằng lời nói hoặc bằng hành động hoặc bằng cả hai để dọa sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nếu chống lại việc chiếm đoạt. Người bị đe dọa phải hiểu là không thể có thời gian thương lượng với người đe dọa, nếu không giao tài sản ngay sẽ bị dùng vũ lực ngay lập tức. Tuy nhiên, cần phải xác định rất nhiều yếu tố khác nhau như bối cảnh, công cụ phương tiện, thái độ, tương quan lực lượng, nội dung lời đe dọa,… để đánh giá một cách tổng hợp nhằm xác định có phải là hành vi “đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc” hay không. Dấu hiệu ngay tức khắc được thỏa mãn chỉ khi người phạm tội đã thể hiện ra bên ngoài mà không đòi hỏi phải thực sự có ý định hay đủ điều kiện để dùng vũ lực ngay tức khắc.
- Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được: Là hành vi có khả năng làm cho người bị tấn công không thể chống lại được việc chiếm đoạt dù không phải là hành vi dùng vũ lực hay là lời đe dọa. Những hành vi này đều có khả năng làm suy giảm hoặc làm tê liệt sự kháng cự của người bị tấn công (Ví dụ: Hành vi đầu độc, dùng thuốc mê khiến nạn nhân bất tỉnh rồi mới cướp tài sản…)
Phân biệt tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản
|
Tội cướp tài sản |
Tội cướp giật tài sản |
|
|
Căn cứ pháp lý |
Điều 168 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) |
Điều 171 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) |
|
Hành vi |
Có 3 dạng hành vi:
|
Hành vi chiếm đoạt trong tội cướp giật tài sản có 2 dấu hiệu đặc trưng:
|
|
Khách thể |
Quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu |
Quan hệ sở hữu |
|
Chủ thể |
|
|
|
Hình phạt |
Khung hình phạt nặng hơn tội cướp giật tài sản, người chuẩn bị phạm tội cũng có thể bị xử lý hình sự. |
Khung hình phạt nhẹ hơn tội cướp tài sản, không có quy định với người chuẩn bị phạm tội. |
|
Ví dụ |
A cầm dao kề vào cổ B yêu cầu B đưa tiền cho mình, nếu không đưa A sẽ giết B ngay |
A lợi dụng lúc B không chú ý nhanh chóng lấy trộm tiền của B |
Thực trạng tội cướp tài sản
Gần đây nhất, vụ cướp tài sản giết người xảy ra vào ngày 14/01/2026 đã làm dư luận dậy sóng bởi tính chất dã man và sự manh động cao của hung thủ. Hung thủ Kiều Ngọc Anh (sinh năm 1999, Hưng Yên) khai với cơ quan điều tra do cần tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định cướp tài sản. Nghi phạm đã chặn đầu xe hai người phụ nữ, cướp tài sản của họ và dùng dao đâm nhiều nhát khiến nạn nhân tử vong tại chỗ. Đây không chỉ đơn thuần chỉ là hành vi cướp tài sản thông thường mà còn là hành vi đe dọa đến tính mạng của người khác. Hành vi của nghi phạm đã thỏa mãn được các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản tại Điều 168 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) do đó hung thủ sẽ bị truy cứu tội danh này. Qua vụ án này, có thể thấy tính nguy hiểm tột độ của tội phạm, chỉ vì vật chất mà có thể tước đoạt đi tính mạng của con người. Vụ án này là minh chứng cho thấy tội phạm cướp tài sản có thể biến tướng thành giết người. Pháp luật sẽ nghiêm trị đối với những đối tượng thực hiện hành vi gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như trên để răn đe và đảm bảo an toàn cho xã hội.
Kết luận
Tội cướp tài sản là một trong những tội phạm xâm phạm quan hệ sở hữu có tính chất nguy hiểm cao trong hệ thống pháp luật hình sự. Hành vi này không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn đe dọa, gây ra thách thức lớn với trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải nhận diện đúng tội phạm để phòng tránh, ngăn ngừa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của chúng tôi, hy vọng rằng, những ý kiến tư vấn này, sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà Quý vị đang quan tâm. Để có thể làm rõ hơn và chi tiết từng vấn đề nêu trên cũng như các vấn đề pháp lý mà Quý vị đang cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn. Xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi theo địa chỉ email: luatsaosang@gmail.com hoặc qua tổng đài tư vấn: 0936.65.3636 để nhận được sự tư vấn, giải đáp và hỗ trợ từ Luật Sao Sáng. Trân trọng cảm ơn!




